Biến đổi khí hậu đang trở thành thách thức toàn cầu, buộc các quốc gia phải hành động mạnh mẽ hơn trong việc cắt giảm phát thải khí nhà kính (KNK). Việt Nam đã cam kết đạt phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050 và đang từng bước thực hiện mục tiêu này. Trong bức tranh chung đó, ngành chăn nuôi giữ vị trí đặc biệt vì đây vừa là ngành kinh tế nông nghiệp quan trọng, đảm bảo an ninh dinh dưỡng và sinh kế cho hàng triệu hộ nông dân, vừa là một trong những nguồn phát thải KNK lớn, chủ yếu là khí mê-tan (CH₄) từ quá trình tiêu hóa của động vật nhai lại và khí nitơ oxit (N₂O) từ chất thải chăn nuôi. Ngoài ra, hoạt động sản xuất thức ăn chăn nuôi, sử dụng phân bón, vận chuyển nguyên liệu và tiêu thụ năng lượng cho chăn nuôi đều góp phần làm gia tăng phát thải các-bon-nic (CO₂) và N₂O.

Số liệu thống kê cho thấy quy mô đàn vật nuôi của Việt Nam đã và đang tăng nhanh: tính đến năm 2022, cả nước có khoảng 8 triệu con trâu bò, 24,7 triệu con lợn và 380 triệu con gia cầm. Theo Chiến lược phát triển chăn nuôi giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn 2045, số lượng đàn vật nuôi có thể tăng lên khoảng 10 triệu con trâu bò, 30 triệu con lợn và 670 triệu gia cầm vào năm 2030. Sự gia tăng quy mô đàn kéo theo áp lực phát thải ngày càng lớn. Năm 2016, phát thải KNK từ ngành chăn nuôi là 18,5 triệu tấn CO2 tương đương và tăng lên hơn 30,84 triệu tấn CO2 vào năm 2020. Xét theo loài vật nuôi, bò sữa có hệ số phát thải CH₄/con/năm từ dạ cỏ cao nhất, khoảng 68 kg. Tiếp theo là bò thịt và trâu, với hệ số phát thải khoảng 47–55 kg; ngựa phát thải khoảng 18 kg; dê và cừu chỉ khoảng 5 kg. Mặc dù bò thịt và trâu có hệ số phát thải thấp hơn bò sữa, nhưng do số lượng nuôi lớn nên tổng lượng phát thải từ bò thịt ước đạt khoảng 245 nghìn tấn CH₄/năm, từ trâu khoảng 138 nghìn tấn và bò sữa khoảng 19 nghìn tấn.

Trên toàn quốc, các chủ thể chăn nuôi từ doanh nghiệp, trạng trại đến các hộ chăn nuôi đã và đang ứng dụng các biện pháp giảm thiểu KNK như cải thiện khẩu phần ăn và dinh dưỡng của động vật nhai lại nhằm giảm thải khí CH₄; quản lí chất thải chăn nuôi sử dụng đệm lót sinh học và ủ phân, cải thiện hệ thống năng lượng hướng tới việc giảm năng lượng hóa thạch, thúc đẩy sử dụng năng lượng tái tạo, ứng dụng công nghệ để giám sát và tối ưu hóa việc sử dụng năng lượng.

Ảnh 1: Hội thảo khoa học Hoàn thiện mô hình lý thuyết ứng dụng kĩ thuật nhằm giảm khiểu khí nhà kính trong chăn nuôi

Một số rào cản đối với giảm thiểu khí nhà kính trong chăn nuôi

Thứ nhất, rào cản về công nghệ và chi phí. Phần lớn cơ sở chăn nuôi ở Việt Nam vẫn ở quy mô nông hộ, nhỏ lẻ, thiếu vốn đầu tư cho công nghệ xử lý chất thải, hệ thống biogas hay cải thiện khẩu phần thức ăn giảm phát thải mê-tan. kiểm kê và đo lường phát thải

Thứ hai, rào cản về nhận thức và động lực kinh tế. Nhiều người chăn nuôi, đặc biệt ở quy mô nhỏ, chưa coi giảm phát thải KNK là ưu tiên vì thiếu cơ chế tài chính khuyến khích cụ thể, trong khi thị trường tín chỉ carbon cho lĩnh vực nông nghiệp – chăn nuôi tại Việt Nam vẫn đang trong giai đoạn hình thành chưa vận hành đầy đủ để tạo nguồn thu bù đắp chi phí đầu tư giảm phát thải.

Thứ ba, rào cản về dữ liệu và năng lực giám sát. Việc thiếu hệ số phát thải đặc thù cho từng loại hình chăn nuôi, từng vùng sinh thái, cùng năng lực đo đạc, báo cáo, thẩm định (MRV) còn hạn chế ở cấp cơ sở và địa phương khiến việc xây dựng chính sách và đánh giá hiệu quả giảm phát thải gặp nhiều khó khăn.

Đề xuất chính sách khắc phục

Một là, có chính sách hỗ trợ tài chính ban đầu cho người chăn nuôi như hỗ trợ đầu tư hệ thống biogas, hệ thống xử lý chất thải tuần hoàn, hệ thống năng lượng tái tạo; xây dựng cơ chế hỗ trợ khuyến khích dán nhãn sản phẩm phát thải thấp để tạo động lực kinh tế cho người chăn nuôi.   

Hai là, thúc đẩy kinh tế tuần hoàn trong chăn nuôi, khuyến khích doanh nghiệp tận dụng chất thải chăn nuôi làm phân bón hữu cơ, năng lượng tái tạo qua đó vừa giảm phát thải vừa tạo thêm giá trị kinh tế.

Ảnh 2: Tập huấn các biện pháp giảm thiểu khí nhà kính trong chăn nuôi tại xã Cẩm Giang, TP. Hải Phòng

Ba là, đẩy mạnh truyền thông, tập huấn nâng cao nhận thức và kĩ thuật cho người chăn nuôi về lợi ích kép của giảm phát thải – vừa bảo vệ môi trường vừa giảm chi phí, tăng hiệu quả sản xuất.

Bốn là, xây dựng và hoàn thiện cơ sở dữ liệu về hệ số phát thải đặc thù cho từng loại vật nuôi, theo hình thức chăn nuôi và theo vùng miền, đồng thời nâng cao năng lực đo đạc – báo cáo – thẩm định (MRV) ở cấp địa phương và doanh nghiệp, làm nền tảng để tham gia thị trường tín chỉ carbon trong nước và quốc tế trong tương lai.

Kết luận

Chăn nuôi vừa là trụ cột kinh tế nông nghiệp vừa là nguồn phát thải KNK đáng kể ở Việt Nam, với xu hướng phát thải tiếp tục tăng theo đà mở rộng quy mô đàn vật nuôi. Việc giảm thiểu phát thải trong lĩnh vực này đang đối mặt với nhiều rào cản đan xen về thể chế, công nghệ, tài chính, nhận thức và dữ liệu. Để thực hiện hiệu quả mục tiêu NDC và Net Zero vào năm 2050, cần một lộ trình chính sách đồng bộ, vừa đảm bảo tính khả thi cho các cơ sở chăn nuôi trong nước, vừa từng bước đưa chăn nuôi hội nhập vào hệ thống quản lý phát thải quốc gia và thị trường carbon, qua đó hướng tới một ngành chăn nuôi phát triển bền vững, có trách nhiệm với môi trường.

TS. Phạm Thanh Lan - Nhóm NCM Kinh tế và Quản lý tài nguyên môi trường