Trong hơn hai thập kỷ qua, ngành chăn nuôi Việt Nam đã có những bước phát triển mạnh mẽ, đóng góp quan trọng vào tăng trưởng nông nghiệp và đảm bảo an ninh lương thực quốc gia. Riêng khu vực miền Bắc, với ba tiểu vùng sinh thái đặc trưng gồm Đồng bằng sông Hồng, Trung du và miền núi phía Bắc, và Bắc Trung Bộ, chăn nuôi bò thịt không chỉ tạo sinh kế cho hàng triệu hộ nông dân mà còn góp phần sử dụng hiệu quả phụ phẩm nông nghiệp, phát triển kinh tế nông thôn và cung cấp nguyên liệu cho ngành chế biến thực phẩm.
Tuy nhiên, bối cảnh phát triển của ngành đang thay đổi nhanh chóng. Biến đổi khí hậu, cam kết phát thải ròng bằng "0" (Net Zero) vào năm 2050, yêu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng về an toàn thực phẩm và truy xuất nguồn gốc, cùng với sức ép cạnh tranh từ thịt bò nhập khẩu đang buộc ngành bò thịt phải chuyển từ mục tiêu tăng sản lượng sang phát triển theo hướng xanh và bền vững. Chuyển đổi xanh vì vậy không còn là một lựa chọn, mà đã trở thành yêu cầu tất yếu để nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành trong giai đoạn mới.
Theo FAO (2023), hệ thống chăn nuôi toàn cầu phát thải khoảng 6,2 tỷ tấn CO₂ tương đương mỗi năm, chiếm khoảng 12% tổng phát thải khí nhà kính do con người tạo ra, trong đó riêng chăn nuôi bò đóng góp khoảng 62% tổng phát thải của ngành chăn nuôi. Phần lớn lượng phát thải này đến từ khí mê-tan sinh ra trong quá trình lên men dạ cỏ, tiếp theo là phát thải từ quản lý chất thải và sản xuất thức ăn chăn nuôi. Đồng thời, Báo cáo OECD–FAO Agricultural Outlook 2025–2034 dự báo rằng nếu không có các giải pháp giảm phát thải hiệu quả, lượng phát thải khí nhà kính của ngành chăn nuôi toàn cầu vẫn sẽ tăng khoảng 6% vào năm 2034 so với năm 2025, mặc dù năng suất vật nuôi tiếp tục được cải thiện.
Đối với miền Bắc, thách thức môi trường không hoàn toàn giống nhau giữa các vùng sinh thái. Đồng bằng sông Hồng có mật độ dân cư và mật độ chăn nuôi cao, trong khi quỹ đất dành cho xử lý chất thải ngày càng thu hẹp. Ngược lại, khu vực Trung du và miền núi phía Bắc có lợi thế về đồng cỏ và nguồn thức ăn tự nhiên nhưng quy mô chăn nuôi nhỏ, năng suất thấp và khả năng đầu tư công nghệ còn hạn chế. Bắc Trung Bộ hiện là vùng có đàn bò lớn nhất cả nước, đồng thời cũng là khu vực thu hút nhiều doanh nghiệp đầu tư các trang trại bò thịt quy mô lớn và các giống bò lai năng suất cao như BBB, Brahman và Droughtmaster. Chính sự khác biệt này cho thấy không thể áp dụng một mô hình chuyển đổi xanh thống nhất mà cần những giải pháp phù hợp với điều kiện sinh thái và trình độ sản xuất của từng vùng.
Tuy nhiên, chuyển đổi xanh trong chăn nuôi bò không chỉ đơn thuần là giảm phát thải khí nhà kính hay xử lý chất thải. Theo cách tiếp cận của FAO, đây là quá trình cải thiện toàn bộ chuỗi giá trị, từ giống, thức ăn, quản lý đàn, xử lý chất thải, sử dụng năng lượng tái tạo đến tổ chức thị trường và truy xuất nguồn gốc sản phẩm. Với ngành bò thịt, việc nâng cao năng suất trên mỗi con vật, tối ưu khẩu phần ăn nhằm giảm phát thải mê-tan, tận dụng phụ phẩm nông nghiệp và phát triển kinh tế tuần hoàn mang lại hiệu quả môi trường cao hơn nhiều so với chỉ tập trung xử lý chất thải sau chăn nuôi.
Một trong những rào cản lớn nhất đối với quá trình chuyển đổi xanh hiện nay chính là cơ cấu sản xuất còn quá phân tán. Mặc dù quy mô đàn bò bình quân đã tăng lên trong những năm gần đây, phần lớn các hộ chăn nuôi vẫn chỉ nuôi từ một đến năm con bò. Quy mô nhỏ khiến người chăn nuôi khó đầu tư chuồng trại đạt chuẩn, áp dụng các công nghệ giảm phát thải, sử dụng thức ăn chất lượng cao hoặc tiếp cận các hệ thống truy xuất nguồn gốc. Đây cũng là nguyên nhân khiến năng suất lao động còn thấp và chi phí sản xuất cao hơn so với nhiều quốc gia trong khu vực.
Chuồng trại nuôi bò của hộ nông dân ở tỉnh Hưng Yên
Photo: Ninh Xuân Trung
Chính vì vậy, liên kết chuỗi giá trị cần được xem là nền tảng của chuyển đổi xanh. Kết quả khảo sát trong dự án nghiên cứu về chuỗi giá trị bò thịt (Dự án AGB/2020/189) tại các tỉnh Hưng Yên, Nghệ An, Thanh Hóa, và Quảng Trị, cho thấy phần lớn hộ chăn nuôi vẫn tiêu thụ bò thông qua thương lái, trong khi mối liên kết với doanh nghiệp, hợp tác xã và cơ sở giết mổ còn khá hạn chế. Các giao dịch chủ yếu dựa trên quan hệ quen biết và thỏa thuận miệng, rất ít hợp đồng bao tiêu dài hạn. Điều này khiến người chăn nuôi khó tiếp cận thông tin thị trường, thiếu động lực đầu tư nâng cao chất lượng sản phẩm và phải đối mặt với rủi ro lớn khi giá bò biến động.
Ở chiều ngược lại, các doanh nghiệp lớn đang từng bước hình thành những chuỗi giá trị khép kín từ nhập khẩu bò sống, vỗ béo, giết mổ đến phân phối thông qua hệ thống bán lẻ hiện đại. Đây là những mô hình có khả năng áp dụng đồng bộ các tiêu chuẩn về an toàn sinh học, phúc lợi động vật, truy xuất nguồn gốc và giảm phát thải. Tuy nhiên, số lượng doanh nghiệp tham gia còn hạn chế và mức độ lan tỏa tới khu vực nông hộ vẫn chưa cao.
Trong bối cảnh đó, hợp tác xã có thể trở thành cầu nối quan trọng giữa nông dân và doanh nghiệp. Thông qua hợp tác xã, các hộ chăn nuôi có thể cùng mua thức ăn với giá thấp hơn, tiếp cận dịch vụ thú y, phối giống, tín dụng và chuyển giao kỹ thuật, đồng thời nâng cao sức mạnh thương lượng khi bán sản phẩm. Quan trọng hơn, hợp tác xã giúp tập hợp các hộ nhỏ thành vùng nguyên liệu đủ lớn để đáp ứng yêu cầu của doanh nghiệp chế biến và các hệ thống phân phối hiện đại. Đây cũng là điều kiện cần để áp dụng các tiêu chuẩn sản xuất xanh và xây dựng thương hiệu thịt bò vùng miền.

Đoàn công tác dự án AGB/2020/189 thăm và làm việc tại HTX chăn nuôi bò Phú Cường, tỉnh Hưng Yên
Photo: Ninh Xuân Trung
Bên cạnh liên kết chuỗi, kinh tế tuần hoàn cũng mở ra nhiều cơ hội cho ngành bò thịt miền Bắc. Hàng năm, khu vực này tạo ra lượng lớn phụ phẩm như rơm rạ, thân cây ngô, dây lạc, bã bia và bã đậu tương, có thể được sử dụng làm thức ăn cho bò thay vì bị đốt bỏ gây ô nhiễm môi trường. Đồng thời, chất thải chăn nuôi hoàn toàn có thể được xử lý thành phân bón hữu cơ hoặc sản xuất khí sinh học phục vụ sinh hoạt và sản xuất. Việc tận dụng các nguồn tài nguyên sẵn có không chỉ giúp giảm phát thải mà còn góp phần giảm đáng kể chi phí sản xuất và nâng cao hiệu quả kinh tế của hộ chăn nuôi.

Tận dụng phụ phẩm nông nghiệp (rơm, thân cây chuối) làm thức ăn cho bò
tại Hưng Yên
Photo: Ninh Xuan Trung
Những năm gần đây, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã ban hành nhiều chính sách thúc đẩy phát triển chăn nuôi theo hướng xanh, tuần hoàn và phát thải thấp, gắn với Chiến lược phát triển chăn nuôi giai đoạn 2021–2030 và các cam kết của Việt Nam tại COP26. Trong thực tế, nhiều trang trại bò thịt tại Nghệ An, Thanh Hóa, Hưng Yên đã đầu tư hệ thống chuồng kín, hầm biogas, máy tách phân và cơ giới hóa khâu phối trộn thức ăn. Tuy nhiên, hơn một triệu hộ chăn nuôi quy mô nhỏ trên cả nước vẫn gặp nhiều khó khăn trong tiếp cận vốn, công nghệ và thị trường.
Trong thời gian tới, chính sách phát triển ngành bò thịt cần chuyển mạnh từ hỗ trợ theo từng hộ sang hỗ trợ theo chuỗi giá trị. Nhà nước cần ưu tiên phát triển các hợp tác xã chăn nuôi hoạt động thực chất, khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào vùng nguyên liệu, mở rộng tín dụng xanh cho các trang trại áp dụng công nghệ giảm phát thải, đồng thời xây dựng hệ thống chứng nhận và truy xuất nguồn gốc đối với thịt bò phát thải thấp. Bên cạnh đó, cần tăng cường nghiên cứu và chuyển giao các giải pháp dinh dưỡng, giống và quản lý đàn nhằm giảm phát thải mê-tan nhưng vẫn nâng cao năng suất và chất lượng thịt.
Có thể nói, chuyển đổi xanh trong chăn nuôi bò thịt ở miền Bắc không đơn thuần là câu chuyện về môi trường mà là quá trình tái cơ cấu toàn diện ngành hàng theo hướng hiện đại, hiệu quả và có khả năng cạnh tranh cao hơn. Khi người chăn nuôi được liên kết chặt chẽ với hợp tác xã, doanh nghiệp, nhà khoa học và thị trường, các giải pháp giảm phát thải sẽ trở nên khả thi và mang lại lợi ích kinh tế rõ ràng hơn. Đó cũng chính là con đường để ngành bò thịt Việt Nam vừa nâng cao thu nhập cho người nông dân, vừa đáp ứng các tiêu chuẩn ngày càng khắt khe của thị trường, đóng góp tích cực vào mục tiêu phát triển nông nghiệp xanh và phát thải ròng bằng "0" vào năm 2050.
Cuối cùng, chuyển đổi xanh chỉ có thể thành công khi có sự tham gia của tất cả các tác nhân trong chuỗi giá trị, từ người chăn nuôi, hợp tác xã, doanh nghiệp chế biến, hệ thống bán lẻ đến các cơ quan quản lý và tổ chức nghiên cứu. Chỉ khi hình thành được một chuỗi giá trị bò thịt có khả năng liên kết chặt chẽ, minh bạch và chia sẻ lợi ích công bằng, ngành chăn nuôi bò thịt miền Bắc mới có thể nâng cao năng lực cạnh tranh, thích ứng hiệu quả với biến đổi khí hậu và phát triển bền vững trong dài hạn. Đây không chỉ là yêu cầu của quá trình hội nhập quốc tế mà còn là con đường để ngành bò thịt Việt Nam chuyển từ tăng trưởng dựa trên mở rộng quy mô sang tăng trưởng dựa trên năng suất, đổi mới sáng tạo và phát triển xanh./.
Phạm Văn Hùng
Khoa Kinh tế và Quản lý, Học viện Nông nghiệp Việt Nam