Trong bối cảnh nông nghiệp đang chuyển đổi theo hướng xanh và bền vững, kinh tế tuần hoàn (KTTH) được xem là giải pháp quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên, giảm thiểu chất thải và cải thiện thu nhập cho người dân. Tuy nhiên, tại các khu vực ven đô như xã Bát Tràng, TP. Hà Nội, quá trình đô thị hóa nhanh đã làm thu hẹp diện tích đất nông nghiệp, trong khi đó sản xuất chủ yếu vẫn mang tính nhỏ lẻ, phân tán. Điều này đặt ra nhiều thách thức cho việc triển khai các mô hình KTTH tại địa phương.
Một trong những đề tài thuộc cấp Học viện, có sự tham gia của các thầy cô khoa Kinh tế và Quản lý cùng sự kết hợp với sinh viên của khoa về “Ứng dụng kinh tế tuần hoàn trong sản xuất nông nghiệp của các hộ nông dân trên địa bàn xã Bát Tràng, thành phố Hà Nội” do ThS. Nguyễn Thị Phương chủ nhiệm đã được triển khai trong năm 2025 nhằm làm rõ thực trạng ứng dụng của người dân tại địa phương.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, việc ứng dụng KTTH trong sản xuất nông nghiệp tại Bát Tràng đã bước đầu đạt được một số kết quả tích cực. Nổi bật là mô hình sản xuất phân bón hữu cơ từ phụ phẩm cây trồng, góp phần tái sử dụng chất thải, giảm chi phí đầu vào và hạn chế ô nhiễm môi trường. Tuy nhiên, tỷ lệ phụ phẩm được tái chế còn thấp do hạn chế về quỹ đất – nhiều hộ chưa có điều kiện xây dựng khu ủ riêng mà chủ yếu tận dụng ngay trên đồng ruộng, ảnh hưởng đến diện tích và môi trường sản xuất.
    |
 |
| Nhóm cán bộ thực hiện đề tài của Khoa Kinh tế và Quản lý làm việc với người dân tại thôn Kim Đức, xã Bát Tràng, TP Hà Nội |
Bên cạnh đó, mô hình kết hợp trồng trọt – chăn nuôi (mô hình VC) cũng được người dân áp dụng khá phổ biến. Mô hình này tuy chưa đầy đủ các hợp phần như hệ thống VAC truyền thống, nhưng đã hình thành các vòng tuần hoàn cơ bản. Nhờ đó, người dân có thể giảm chi phí sản xuất, hạn chế phụ thuộc vào vật tư hóa học và tận dụng hiệu quả nguồn phụ phẩm tại chỗ, nâng cao chất lượng đầu ra của sản phẩm. Mô hình này cũng được đánh giá khá phù hợp với điều kiện đất đai hạn chế của địa phương. Tuy nhiên, một số hạn chế vẫn tồn tại, đặc biệt là việc xử lý nước thải chăn nuôi chưa triệt để, còn xảy ra tình trạng xả thải trực tiếp ra môi trường. Tỷ lệ người dân có bể lắng sinh học để thu hồi nước và tái sử dụng cho cây trồng tuy đã có xuất hiện tại địa bàn nhưng tỷ lệ tương đối thấp.
    |
 |
| Mô hình tích hợp giữa trồng trọt và chăn nuôi phổ biến tại địa phương |
Ngoài ra, các thực hành canh tác theo hướng an toàn và thân thiện môi trường đang có xu hướng gia tăng. Việc sử dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật từng bước chuyển từ hóa học sang các giải pháp sinh học, thủ công đã góp phần giảm thiểu khai thác mới tài nguyên và ô nhiễm môi trường.
Mặc dù mức độ áp dụng KTTH hiện nay còn hạn chế và chủ yếu ở quy mô hộ, nhưng xu hướng gia tăng tái chế phụ phẩm và giảm phụ thuộc vào đầu vào hóa học đã tạo nền tảng quan trọng cho phát triển nông nghiệp tuần hoàn tại địa phương. Thực tiễn cũng cho thấy, việc phát triển KTTH trogn sản xuất nông nghiệp tại Bát Tràng chịu tác động của nhiều yếu tố như: chính sách và quy hoạch, đặc biệt là quỹ đất nông nghiệp; nguồn lực tài chính và nhân lực; cơ sở hạ tầng và dịch vụ hỗ trợ; nhận thức và khả năng tiếp cận thông tin của người dân; cũng như thị trường tiêu thụ sản phẩm. Trong đó, hạn chế về đất đai do đặc thù ven đô được xác định là rào cản lớn đối với việc mở rộng các mô hình tuần hoàn.
Nhìn chung, ứng dụng KTTH trong sản xuất nông nghiệp tại Bát Tràng có nhiều tiềm năng phát triển do có khối lượng phụ phẩm hữu cơ từ cây trồng lớn, song cần được hỗ trợ đồng bộ về chính sách, quy hoạch và tổ chức sản xuất cũng như nâng cao năng lực, phát triển thị trường để có thể nhân rộng và phát huy hiệu quả bền vững trong thời gian tới.
Nguyễn Thị Phương - Khoa Kinh tế & Quản lý