Trong giai đoạn 2020–2024, nhu cầu năng lượng của Việt Nam tăng nhanh cùng với quá trình phục hồi và phát triển kinh tế. Theo thống kê của Viện Năng lượng, tổng tiêu thụ năng lượng cuối cùng tăng từ 63.799 nghìn TOE năm 2020 lên 77.973 nghìn TOE năm 2024, tương ứng tốc độ tăng bình quân 5,1%/năm. Xét theo lĩnh vực sử dụng, giao thông vận tải có tốc độ tăng tiêu thụ năng lượng cao nhất, bình quân 7,3%/năm; tiếp đến là nông, lâm nghiệp và thủy sản với 5,6%/năm; thương mại và dịch vụ 5,5%/năm; công nghiệp - xây dựng 4,4%/năm; và dân dụng 4,1%/năm. Năm 2024, công nghiệp - xây dựng chiếm 54,0% tổng tiêu thụ năng lượng cuối cùng, giao thông vận tải chiếm 23,5% và dân dụng chiếm 13,7%. Ba lĩnh vực này chiếm tổng cộng 91,3%, trong khi nông, lâm nghiệp và thủy sản, thương mại - dịch vụ cùng các hoạt động khác chỉ chiếm 8,8% (Hình 1).

Hình 1. Cơ cấu tiêu thụ năng lượng theo lĩnh vực sử dụng năm 2024
Bên cạnh đó, cơ cấu tiêu dùng năng lượng cho thấy xu hướng điện hóa ngày càng rõ nét. Tỷ trọng điện trong tổng tiêu thụ năng lượng cuối cùng tăng từ 28,1% năm 2020 lên 30,5% năm 2024; mức tiêu thụ điện bình quân đầu người tăng từ 2.229 kWh lên 2.731 kWh trong cùng giai đoạn. Tuy nhiên, than và sản phẩm dầu vẫn chiếm tỷ trọng lớn, lần lượt đạt 23,3% và 35,5% tổng tiêu thụ năng lượng cuối cùng năm 2024. Cùng với sự gia tăng nhu cầu năng lượng, lượng phát thải CO₂ từ hoạt động năng lượng tăng từ khoảng 269 triệu tấn năm 2020 lên 309 triệu tấn năm 2024. Những số liệu này cho thấy áp lực tiêu dùng năng lượng tập trung chủ yếu ở công nghiệp - xây dựng và giao thông vận tải, đồng thời phản ánh sự phụ thuộc đáng kể vào nhiên liệu hóa thạch. Đây là bối cảnh thực tiễn đặt ra yêu cầu phải hoàn thiện và triển khai đồng bộ các chính sách thúc đẩy sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả và bền vững tại Việt Nam.
Trước yêu cầu đó, Việt Nam đã từng bước hoàn thiện hệ thống chính sách thúc đẩy tiêu dùng năng lượng bền vững. Khung chính sách được xây dựng trên nền tảng Luật Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả năm 2010, Chương trình quốc gia về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả giai đoạn 2019 - 2030 (VNEEP3) theo Quyết định số 280/QĐ - TTg và các quy định về tiết kiệm điện, dán nhãn năng lượng, tiêu chuẩn hiệu suất năng lượng tối thiểu. Mục tiêu của VNEEP3 là tiết kiệm 5-7% tổng tiêu thụ năng lượng quốc gia trong giai đoạn 2019 - 2025 và 8 đến 10% trong giai đoạn 2019 - 2030, đồng thời góp phần bảo đảm an ninh năng lượng và thực hiện cam kết giảm phát thải khí nhà kính.
Luật Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả năm 2010 là văn bản pháp lý nền tảng điều chỉnh hoạt động sử dụng năng lượng trong toàn bộ nền kinh tế. Luật quy định trách nhiệm của các cơ sở sử dụng năng lượng trọng điểm trong việc xây dựng hệ thống quản lý năng lượng, thực hiện kiểm toán năng lượng định kỳ, bổ nhiệm người quản lý năng lượng và áp dụng các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng. Song song vơi Luật sử dụng năng lượn, Chính phủ đã ban hành nhiều nghị định, thông tư hướng dẫn về quản lý phương tiện, thiết bị sử dụng năng lượng, tiêu chuẩn hiệu suất năng lượng tối thiểu và lộ trình loại bỏ các thiết bị có hiệu suất thấp.
Ở khía cạnh truyền thông, Chương trình dán nhãn năng lượng đối với các thiết bị sử dụng điện đã được thực hiện nhằm thay đổi hành vi của người tiêu dùng. Hệ thống nhãn năng lượng của Việt Nam cung cấp thông tin về mức tiêu thụ điện và cấp hiệu suất của sản phẩm, giúp người tiêu dùng lựa chọn các thiết bị tiết kiệm năng lượng. Đồng thời, Bộ Công Thương và Chương trình VNEEP3 thường xuyên tổ chức các chiến dịch truyền thông, đào tạo doanh nghiệp, phát động phong trào sử dụng điện tiết kiệm và tuyên truyền thay đổi hành vi tiêu dùng trong hộ gia đình, cơ quan và doanh nghiệp.
Đối với công cụ kinh tế và tài chính, các cơ chế hỗ trợ doanh nghiệp đầu tư đổi mới công nghệ, áp dụng hệ thống quản lý năng lượng, thực hiện kiểm toán năng lượng và tiếp cận nguồn vốn ưu đãi cho các dự án sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả đang từng bước hình thành. Thông qua VNEEP3, nhiều dự án hỗ trợ kỹ thuật, tín dụng xanh và hợp tác quốc tế đã được triển khai nhằm giảm chi phí đầu tư ban đầu và khuyến khích doanh nghiệp đổi mới thiết bị có hiệu suất cao. Tuy nhiên, các công cụ định giá như thuế các-bon hay cơ chế khuyến khích tài chính vẫn đang trong quá trình hoàn thiện và chưa phát huy đầy đủ vai trò định hướng hành vi tiêu dùng năng lượng.
Hiện nay, Việt Nam đang tăng cường quản lý nhu cầu điện và ứng dụng công nghệ thông vào các chương trình điều chỉnh phụ tải điện, phát triển lưới điện thông minh và khuyến khích doanh nghiệp giám sát tiêu thụ năng lượng bằng công nghệ số. Đặc biệt, Chỉ thị số 20/CT-TTg năm 2023 yêu cầu các bộ, ngành, địa phương và doanh nghiệp đẩy mạnh tiết kiệm điện trong giai đoạn cao điểm, góp phần giảm áp lực lên hệ thống điện quốc gia. Cùng với đó, việc mở rộng ứng dụng công tơ điện tử, số hóa quản lý phụ tải và tích hợp năng lượng tái tạo đang tạo nền tảng cho quản lý tiêu dùng năng lượng theo thời gian thực.
Nhìn chung, hệ thống công cụ chính sách của Việt Nam đã hình thành tương đối đầy đủ với sự kết hợp giữa quy định bắt buộc, tiêu chuẩn hiệu suất, dán nhãn năng lượng, truyền thông nâng cao nhận thức và hỗ trợ kỹ thuật. Tuy nhiên, so với các quốc gia phát triển trên thế giới thì các công cụ về kinh tế và cơ chế thị trường vẫn còn hạn chế; mức độ số hóa quản lý nhu cầu năng lượng còn thấp.
PGS.TS. Nguyễn Thị Hải Ninh
Nhóm NCM Kinh tế và Quản lý Tài nguyên môi trường
Học viện Nông nghiệp Việt Nam