Nông nghiệp tiếp tục giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam, là nền tảng bảo đảm an ninh lương thực, an sinh và ổn định đời sống người dân. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, biến đổi khí hậu và cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0, chuyển đổi số được xem là xu hướng tất yếu nhằm nâng cao năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh của ngành nông nghiệp. Thực hiện chủ trương của Chính phủ và thành phố Hà Nội về phát triển nông nghiệp số, phường Chương Mỹ đã tích cực ứng dụng khoa học công nghệ, đẩy mạnh cơ giới hóa, phát triển các vùng sản xuất chuyên canh và nông nghiệp hữu cơ theo hướng bền vững. Tuy nhiên, quá trình chuyển đổi số trong nông nghiệp tại Chương Mỹ vẫn còn gặp nhiều khó khăn như hạn chế về hạ tầng công nghệ, kinh phí đầu tư và trình độ kỹ năng số của người dân. Vì vậy, việc nghiên cứu, đề xuất các giải pháp phù hợp nhằm thúc đẩy chuyển đổi số trong nông nghiệp là yêu cầu cần thiết, góp phần xây dựng nền nông nghiệp hiện đại, bền vững và nâng cao đời sống người dân nông thôn trong thời gian tới.

Đề tài “Chuyển đổi số trong nông nghiệp trên địa bàn phường Chương Mỹ, thành phố Hà Nội” do TS. Thái Thị Nhung làm chủ nhiệm triển khai năm 2025 hướng tới đánh giá thực trạng chuyển đổi số trong nông nghiệp trên địa bàn phường Chương Mỹ, thành phố Hà Nội, phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến chuyển đổi số trong nông nghiệp trên địa bàn phường, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm thúc đẩy chuyển đổi số trong nông nghiệp trên địa bàn phường Chương Mỹ, thành phố Hà Nội trong thời gian tới.

Hình 1: Mô hình trồng lan ứng dụng hệ thống cảm biến nhiệt độ, độ ẩm tại HTX hoa lan Thụy Hương, Chương Mỹ, Hà Nội

Hình 2: Ứng dụng công nghệ số trong chăn nuôi gà tại Chương Mỹ, Hà Nội

Qua việc đánh giá thực trạng chuyển đổi số trong nông nghiệp trên địa bàn phường Chương Mỹ cho thấy, quá trình ứng dụng công nghệ số trong sản xuất và kinh doanh nông nghiệp đã bước đầu được triển khai ở một số khâu của chuỗi giá trị nông nghiệp. Nhiều hộ nông dân đã sử dụng các thiết bị công nghệ thông tin phổ biến như điện thoại thông minh, mạng xã hội và các nền tảng số để tiếp cận thông tin kỹ thuật, trao đổi kinh nghiệm sản xuất và tìm kiếm đầu ra cho nông sản. Bên cạnh đó, một số mô hình sản xuất nông nghiệp đã ứng dụng công nghệ số trong quản lý quy trình sản xuất, truy xuất nguồn gốc sản phẩm, giám sát môi trường sản xuất hoặc áp dụng các hệ thống tự động hóa trong trồng trọt. Tuy nhiên, mức độ ứng dụng công nghệ số giữa các khâu của chuỗi giá trị còn chưa đồng đều và chủ yếu mới dừng lại ở việc sử dụng các công cụ công nghệ phổ thông. Các công nghệ số chuyên sâu như cảm biến giám sát môi trường, phần mềm quản lý sản xuất, nền tảng thương mại điện tử hoặc hệ thống quản trị dữ liệu nông nghiệp vẫn còn được áp dụng hạn chế. Điều này cho thấy quá trình chuyển đổi số trong nông nghiệp tại địa phương vẫn đang ở giai đoạn đầu và cần tiếp tục được thúc đẩy thông qua các chính sách hỗ trợ, nâng cao năng lực số cho nông dân và tăng cường đầu tư hạ tầng công nghệ phục vụ sản xuất nông nghiệp.

Để thúc đẩy chuyển đổi số trong nông nghiệp trên địa bàn phường trong thời gian tới, đề tài đã đề xuất nhóm giải pháp đồng bộ, bao gồm: Tăng cường chỉ đạo, phối hợp của ban ngành và các cấp chính quyền về chuyển đổi số trong nông nghiệp; Nâng cao nhận thức và ứng xử của nông dân về chuyển đổi số trong nông nghiệp; Phát triển nguồn nhân lực phục vụ cho chuyển đổi số trong nông nghiệp; Tăng cường chuyển đổi số trong quản lý hành chính và dịch vụ công trong nông nghiệp; Thúc đẩy chuyển đổi số trong sản xuất và chế biến, kinh doanh nông sản.

Thái Thị Nhung – Khoa Kinh tế & Quản lý