Chăn nuôi bò thịt đang là một trong những ngành sản xuất nông nghiệp quan trọng tại Việt Nam, song cũng đối mặt với nhiều thách thức lớn. Sản lượng thịt bò trong nước hiện mới đáp ứng khoảng 40% nhu cầu tiêu dùng, trong khi áp lực cạnh tranh từ thịt nhập khẩu ngày càng gia tăng. Tại thành phố Hưng Yên, bò thịt là vật nuôi chủ lực, chiếm tới 49,1% tổng đàn của tỉnh Hưng Yên cũ. Tuy nhiên, hoạt động chăn nuôi chủ yếu vẫn mang tính nhỏ lẻ, phân tán, hiệu quả kinh tế chưa cao. Đề tài nghiên cứu “Phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới hiệu quả kỹ thuật trong chăn nuôi bò thịt tại thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên mã số T2025-5-19 cấp Học viện do Nguyễn Thị Lý và nhóm nghiên cứu đã thực hiện để đánh giá hiệu quả kỹ thuật và xác định các yếu tố ảnh hưởng, từ đó đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất trong chăn nuôi bò thịt.

leftcenterrightdel
 

Kết quả nghiên cứu cho thấy mức độ hiệu quả kỹ thuật của các hộ chăn nuôi bò thịt tại khu vực nghiên cứu đạt mức cao và tương đối đồng đều, với giá trị trung bình đạt 95,4%. Đáng chú ý, có tới 47,3% số hộ đạt hiệu quả tối đa (TE = 1). Điều này cho thấy các hộ chăn nuôi đã sử dụng nguồn lực khá hiệu quả, tuy nhiên vẫn còn dư địa để cải thiện khi sản lượng có thể tăng thêm gần 5% mà không cần thay đổi mức đầu tư của các yếu tố đầu vào.

Bảng 1: Phân phối của mức hiệu quả kỹ thuật trong chăn nuôi bò thịt

Mức hiệu quả

Mức hiệu quả kỹ thuật (TE)

Số hộ

Cơ cấu (%)

<70%

0

0.0

70-80%

3

2.0

80-90%

27

18.0

90-100%

49

32.7

100%

71

47.3

Trung bình

95.4

Độ lệch chuẩn

5.9

Giá trị nhỏ nhất

78.4

Giá trị lớn nhất

100.0

Kết quả phân tích cũng chỉ ra rằng trình độ học vấn của chủ hộ, mức độ chuyên môn hóa trong chăn nuôi và quy mô đàn là những yếu tố có tác động tích cực đến hiệu quả kỹ thuật. Ngược lại, việc phụ thuộc vào nguồn thức ăn thô xanh mua ngoài và tình trạng đầu tư chuồng trại vượt nhu cầu thực tế lại làm giảm hiệu quả do gia tăng chi phí không cần thiết.

Từ các kết quả nghiên cứu, nhóm tác giả đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả chăn nuôi bò thịt. Trước hết, cần tăng cường đào tạo, nâng cao năng lực quản lý và kỹ năng hạch toán kinh tế cho người chăn nuôi. Bên cạnh đó, khuyến khích các hộ phát triển theo hướng chuyên môn hóa, coi chăn nuôi bò là nguồn thu nhập chính để tập trung nguồn lực và kinh nghiệm. Việc chủ động nguồn thức ăn thông qua trồng cỏ và áp dụng kỹ thuật ủ chua cũng là giải pháp quan trọng giúp giảm chi phí và nâng cao tính ổn định trong sản xuất. Ngoài ra, cần tối ưu hóa quy mô chuồng trại, tránh đầu tư lãng phí, đồng thời mở rộng quy mô chăn nuôi gắn với năng lực quản lý nhằm tận dụng lợi thế kinh tế theo quy mô.

Kết quả nghiên cứu không chỉ cung cấp cơ sở khoa học cho việc hoạch định chính sách phát triển chăn nuôi bò thịt tại địa phương, mà còn góp phần định hướng thực tiễn cho các nông hộ trong việc nâng cao hiệu quả sản xuất, hướng tới phát triển bền vững và tăng sức cạnh tranh trên thị trường.

Kết quả nghiên cứu trên của đề tài sẽ được công bố trong 01 bài báo trên  tạp chí Vietnam Journal Agriculture Sciences (bài báo đã được chấp nhận đăng ngày 15/4/2026 tại https://eng.vjas.vn/index.php/vjas/waiting_post truy cập ngày 7/5/2026).

Nguyễn Thị Lý và nhóm nghiên cứu –Nhóm NCM Liên kết kinh tế và PTTT