Sau gần một thập kỷ, hạ tầng môi trường nông thôn Việt Nam đã cải thiện rõ rệt, nhưng việc áp dụng kỹ thuật giảm phát thải ở cấp hộ sản xuất vẫn ở mức thấp. Đó là bức tranh rút ra khi đối chiếu kết quả hai cuộc Tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp năm 2016 và năm 2025 với cam kết giảm phát thải khí nhà kính của Việt Nam đến năm 2030.

Môi trường nông thôn gồm ba nhóm cấu thành: tài nguyên khai thác tại chỗ (đất, nước, năng lượng tái tạo), hạ tầng bảo vệ môi trường và phương thức sản xuất nông nghiệp xét theo mức phát thải và gây ô nhiễm. Câu hỏi đặt ra là ba nhóm này có cải thiện đồng đều hay không, và mức độ áp dụng kỹ thuật giảm phát thải ở cấp hộ đã tương xứng với cam kết khí hậu quốc gia hay chưa. Cuộc Tổng điều tra năm 2025 thu thập thông tin tại 8.309 xã, thị trấn và 15,84 triệu hộ nông thôn; cuộc Tổng điều tra năm 2016 bao gồm 8.978 xã và gần 16,0 triệu hộ.

Năng lượng tái tạo khu vực nông thôn

Chuyển dịch năng lượng xanh ở nông thôn là quá trình thay thế dần năng lượng hóa thạch bằng năng lượng tái tạo khai thác tại chỗ. Theo số liệu của Tập đoàn Điện lực Việt Nam được dẫn trong kết quả Tổng điều tra năm 2025, khu vực nông thôn có 218 công trình năng lượng sạch, tổng công suất khoảng 15 nghìn MW, gồm 136 công trình điện mặt trời, 74 công trình điện gió và 8 công trình điện sinh khối. Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên chiếm 61,47% số công trình nhờ lợi thế về bức xạ mặt trời, gió, quỹ đất và kết nối hạ tầng; riêng Khánh Hòa chiếm 25,23%, dẫn đầu cả nước nhờ đẩy mạnh phát triển điện gió và điện mặt trời.

Năng lượng cũng là ngành đảm nhận phần lớn nhất trong cam kết giảm phát thải của Việt Nam. Đóng góp do quốc gia tự quyết định là văn bản các nước thành viên Thỏa thuận Paris định kỳ đệ trình, nêu mục tiêu giảm phát thải và thích ứng với biến đổi khí hậu. Đóng góp vô điều kiện được thực hiện bằng nguồn lực trong nước, còn đóng góp có điều kiện chỉ đạt được khi có hỗ trợ quốc tế. Theo bản cập nhật năm 2022, đến năm 2030 Việt Nam giảm 15,8% phát thải so với kịch bản phát triển thông thường theo đóng góp vô điều kiện và 43,5% theo đóng góp có điều kiện; riêng ngành năng lượng lần lượt là 7,0% và 24,4%.

Hình ảnh ao sen

Hạ tầng cải thiện, kỹ thuật ở cấp hộ vẫn còn thấp

Quản trị môi trường sinh thái ở nông thôn vận hành qua hai kênh: hạ tầng công cộng và tổ chức sản xuất do kinh tế tập thể dẫn dắt. Ở kênh hạ tầng, tỷ lệ xã được thu gom rác thải sinh hoạt tăng từ 63,46% năm 2016 lên 81,36% năm 2025, tỷ lệ xã có hệ thống thoát nước thải chung tăng từ 35,75% lên 47,10%. Ở kênh tổ chức sản xuất, cả nước có 8.416 hợp tác xã nông, lâm nghiệp và thủy sản; 7.960 cơ sở đạt VietGAP và 355 cơ sở được chứng nhận hữu cơ.

Tuy vậy, cuộc Tổng điều tra năm 2025 ước tính chỉ 8,5% hộ trồng lúa áp dụng tưới tiết kiệm nước, giảm phát thải khí nhà kính. Trong khi đó, văn bản Đóng góp do quốc gia tự quyết định xác định tưới ướt – khô xen kẽ và rút nước giữa vụ là biện pháp thực hiện cam kết giảm 30% phát thải mê-tan vào năm 2030 so với năm 2020.

Hình ảnh cánh đồng nông thôn

 

Điểm nghẽn nằm ở chi phí

Điểm nghẽn được hiểu là tình huống giải pháp kỹ thuật đã sẵn có nhưng chưa được áp dụng rộng rãi vì chi phí cao. Rác thải sinh hoạt phần lớn chưa được xử lý đúng quy trình: 49,34% chuyển nơi khác, 33,46% đốt, 16,4% chôn lấp. Chỉ 112 trong số 272 làng nghề phát sinh nước thải công nghiệp có nước thải được xử lý tập trung đạt chuẩn. Diện tích sản xuất theo quy trình nông nghiệp tốt, hữu cơ hoặc tương đương của trang trại chỉ chiếm 0,96% tổng diện tích đất sản xuất nông nghiệp và thủy sản. Kết quả Tổng điều tra năm 2025 quy nguyên nhân cho yêu cầu kỹ thuật, ghi chép nhật ký và chi phí đầu tư ban đầu cao.

Rào cản tài chính cũng được văn bản Đóng góp do quốc gia tự quyết định ghi nhận: chưa có dịch vụ tài chính và tín dụng xanh để các nhóm dễ bị tổn thương tiếp cận, và nguồn lực nhà nước mới đáp ứng khoảng 30% nhu cầu thích ứng. Báo cáo Khí hậu và Phát triển quốc gia của Ngân hàng Thế giới (2022) ước tính Việt Nam cần bổ sung khoảng 368 tỷ USD đầu tư đến năm 2040.

Ba điểm rút ra

Thứ nhất, hạ tầng môi trường nông thôn cải thiện rõ trong giai đoạn 2016–2025: tỷ lệ xã được thu gom rác thải tăng 17,90 điểm phần trăm, tỷ lệ xã có hệ thống thoát nước thải chung tăng 11,35 điểm phần trăm. Thứ hai, chỉ tiêu kỹ thuật ở cấp hộ và cơ sở sản xuất vẫn thấp: tưới tiết kiệm nước ở 8,5% hộ trồng lúa (ước tính), xử lý nước thải đạt chuẩn ở 112/272 làng nghề, sản xuất theo quy trình chứng nhận trên 0,96% diện tích. Thứ ba, các biện pháp giảm mê-tan trong canh tác lúa mà Việt Nam cam kết đều áp dụng ở cấp hộ, nên tiến độ thực hiện phụ thuộc vào tỷ lệ hộ trồng lúa áp dụng, hiện mới ước tính ở mức 8,5%.

Tiến sĩ Lê Phương Nam

Nhóm nghiên cứu mạnh Quản lý Kinh tế Tài nguyên và Môi trường