Chiều ngày 28/9/2026, trong khuôn khổ chuỗi hoạt động nghiên cứu khoa học chào mừng 70 năm thành lập Học viện Nông nghiệp Việt Nam và 65 năm thành lập Khoa Kinh tế và Quản lý, tại phòng họp của Khoa, PGS.TS. Nguyễn Phượng Lê đã trình bày chủ đề “Chính sách tài chính xanh: Nghiên cứu so sánh giữa Trung Quốc và Việt Nam” tại seminar, với sự tham dự của các thầy cô giáo, giảng viên, nghiên cứu viên và sinh viên của Khoa. Bài trình bày tập trung phân tích những điểm tương đồng và khác biệt trong chính sách tài chính xanh của hai quốc gia, qua đó đề xuất một số hàm ý chính sách quan trọng đối với Việt Nam trong quá trình chuyển đổi xanh và hướng tới phát triển bền vững.
Nghiên cứu của PGS.TS. Nguyễn Phượng Lê sử dụng phương pháp phân tích so sánh định tính trên các phương diện chính gồm khung pháp lý, các chủ thể tham gia, công cụ chính sách và kết quả thực thi. Kết quả cho thấy Trung Quốc đã xây dựng được hệ thống tài chính xanh tương đối toàn diện, trong khi Việt Nam vẫn đang trong quá trình hoàn thiện về thể chế, công cụ và cơ chế phối hợp.
PGS.TS. Nguyễn Phượng Lê trao đổi về chủ đề nghiên cứu
Một trong những điểm nổi bật của mô hình tài chính xanh của Trung Quốc là cách tiếp cận quản lý từ trung ương xuống địa phương, với sự tham gia phối hợp của nhiều cơ quan nhà nước. Từ năm 2016, Trung Quốc đã từng bước hình thành hệ thống tài chính xanh với nhiều cấu phần như tín dụng xanh, trái phiếu xanh, chứng khoán xanh, quỹ xanh, bảo hiểm xanh và thị trường carbon. Sau năm 2020, hệ thống này tiếp tục được mở rộng nhằm phục vụ các mục tiêu giảm phát thải carbon.
Các công cụ tài chính xanh của Trung Quốc cũng phát triển khá đa dạng, bao gồm tín dụng xanh, trái phiếu xanh, cổ phiếu xanh, quỹ ESG, công bố ESG, bảo hiểm xanh và thị trường carbon. Đến cuối năm 2024, dư nợ tín dụng xanh của Trung Quốc đạt khoảng 36,6 nghìn tỷ nhân dân tệ, cho thấy quy mô lớn và vai trò ngày càng rõ nét của tài chính xanh trong nền kinh tế.
Đối với Việt Nam, nghiên cứu ghi nhận những bước tiến đáng kể trong xây dựng khung pháp lý. Luật Bảo vệ môi trường năm 2020, các chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh, phát triển ngân hàng xanh, cùng các quy định liên quan đến tín dụng xanh và trái phiếu xanh đã tạo nền tảng quan trọng cho thị trường. Đặc biệt, Quyết định số 21/2025/QĐ-TTg về tiêu chí môi trường và xác nhận dự án thuộc danh mục phân loại xanh được xem là một bước tiến quan trọng trong việc nâng cao tính minh bạch của các hoạt động tài chính xanh.
Hiện nay, tín dụng xanh và trái phiếu xanh là hai công cụ phát triển rõ nét nhất tại Việt Nam. Tính đến ngày 31/3/2024, dư nợ tín dụng xanh đạt gần 637.000 tỷ đồng, tương đương khoảng 4,5% tổng dư nợ toàn nền kinh tế. Đến năm 2025, tổng dư nợ tín dụng xanh đã tăng lên gần 850 nghìn tỷ đồng, tập trung chủ yếu vào các lĩnh vực năng lượng tái tạo, năng lượng sạch và nông nghiệp. Bên cạnh đó, cổ phiếu xanh, quỹ đầu tư xanh và thị trường tín chỉ carbon cũng đang từng bước hình thành.
Từ kết quả so sánh, nghiên cứu cho thấy sự khác biệt đáng chú ý giữa Trung Quốc và Việt Nam nằm ở mức độ đồng bộ và chiều sâu của hệ thống tài chính xanh. Trung Quốc có khung pháp lý thống nhất hơn, công cụ tài chính đa dạng hơn và cơ chế điều phối mạnh hơn. Trong khi đó, tại Việt Nam, các chính sách vẫn còn phân tán, các công cụ tài chính xanh chưa phát triển đồng đều và cơ chế phối hợp liên ngành còn hạn chế.
Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất bốn hàm ý chính cho Việt Nam trong thời gian tới: tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý theo hướng tích hợp và nhất quán; đa dạng hóa các công cụ tài chính xanh, đặc biệt là thị trường vốn xanh, trái phiếu xanh, quỹ đầu tư xanh và thị trường carbon; tăng cường vai trò điều phối của các cơ quan trung ương và sự tham gia của khu vực tư nhân; đồng thời sớm hoàn thiện hệ thống phân loại xanh và các tiêu chuẩn ESG nhằm nâng cao tính minh bạch và thu hút dòng vốn quốc tế.
Phần trình bày của PGS.TS. Nguyễn Phượng Lê đã cung cấp một góc nhìn so sánh có hệ thống về quá trình phát triển tài chính xanh tại Trung Quốc và Việt Nam. Qua đó, tham luận góp phần làm rõ vai trò của thể chế, công cụ tài chính và cơ chế phối hợp trong việc thúc đẩy chuyển đổi xanh, đồng thời gợi mở những định hướng có giá trị thực tiễn đối với Việt Nam trong giai đoạn phát triển mới.
Seminar có sự tham gia của đông đảo cán bộ, giảng viên, nghiên cứu viên, và sinh viên Khoa Kinh tế và Quản lý
Trần Thị Như Ngọc
Bộ môn Kinh tế Nông nghiệp và Chính sách, Khoa Kinh tế và Quản lý